“Khuyến học” của FUKUZAWA Yukichi – Dẫn lối văn minh

Cả ngàn năm qua, chính phủ nắm trong tay mọi quyền hành trên đất nước… Nhân dân chỉ còn biết nhắm mắt tuân theo các chỉ thị của chính phủ. Đất nước ta giống như tài sản riêng của chính phủ, còn nhân dân chẳng khác nào như những người ăn nhờ ở đậu vậy… Và thế thì quốc gia cũng chỉ như cái nhà trọ, để người dân tạm dừng chân trong cuộc đời họ mà thôi… (Fukuzawa Yukichi (1835-1901), sách Khuyến học 1872-1876)

… trường học là trường học của chính phủ, quân đội là quân đội của chính phủ. Đường sắt, bưu điện, điện tín, công trình kiến trúc bằng đá, cầu cống bằng sắt thép cũng như vậy. Tất cả đều là của chính phủ.

Người dân suy nghĩ về những việc trên như thế nào? Và dân chúng nói với nhau ra sao? Họ bảo rằng: “Chính phủ hiện nay vừa có sức mạnh vừa có đầu óc, nên chẳng ai có thể đọ nổi. Chính phủ ở trên cao trị quốc, mọi thứ đã có chính phủ lo nghĩ và làm cho rồi. Còn chúng ta là loại dân đen ở dưới, cứ có cái ăn để sống là được. Việc nước là chuyện đại sự, là việc của “các quan trên”, chứ đâu phải là việc của lũ dân đen mình là lo”.

Cuốn sách mà các bạn đang cầm trên tay là cuốn Khuyến học, được ông viết trong thời gian 1872-1876. Đây không phải là tác phẩm đồ sộ và sâu sắc nhất của ông, nhưng lại là tác phẩm có ảnh hưởng sâu rộng nhất đến công chúng Nhật Bản. Khi mới được in lần đầu, cuốn sách này có một số lượng ấn bản kỷ lục là 3,4 triệu bản, trong khi dân số Nhật Bản thời đó chỉ khoảng 35 triệu người. Chỉ riêng điều đó đã cho thấy đây thực sự là cuốn sách gối đầu giường của người dân Nhật trong thời kỳ Duy Tân. Và kể từ đó đến nay, cuốn sách này đã được tái bản liên tục, chỉ tính từ năm 1942 đến năm 2000, riêng nhà xuất bản Iwanami Bunko đã tái bản đến 76 lần.

 

Bấm tên bài để đọc bài viết đầy đủ và xem trực tuyến!

Tải về:

http://www.mediafire.com/?mdeaxq5wnx67i9q

=================

Hàng loạt báo đã giới thiệu tác phẩm này….

Ở hạng mục “Lẽ sống”, cuốn sách dịch được trao giải là “Khuyến học” của Fukuzawa Yukichi, do Phạm Hữu Lợi dịch. Tác giả nhấn mạnh: Nước Nhật đã tìm ra lời giải thực học mới có thể thành công trong việc chấn hưng đất nước thông qua cuốn sách nổi tiếng kinh điển này, hy vọng cuốn sách có thể giúp cho nền giáo dục VN trong tương lai.
Nguồn: http://laodong.com.vn/Tin-Tuc/Giai-thuong-Sach-hay-2011-5-mang-sach-de-trong/57661

Mười một tác phẩm thuộc bảy lĩnh vực: lẽ sống, giáo dục, nghiên cứu, kinh tế, quản trị, văn học thiếu nhi, văn học – tiểu thuyết vừa được tôn vinh tại giải Sách hay 2011 vào sáng qua (8.9) tại khách sạn Kim Đô, TP.HCM. Kết quả giải thưởng Sách Hay 2011:- Sách lẽ sống: sách viết: không có; sách dịch: Khuyến học (Fukuzawa Yukichi, Phạm Hữu Lợi dịch, NXB Trẻ, 2004, Nhã Nam & NXB Tri Thức, 2008).
Nguồn: http://sgtt.vn/Van-hoa/152690/Giai-thuong-Sach-Hay-2011-Thong-diep-co-tinh-khuynh-huong.html

An ninh thủ đô: 11 cuốn sách thuộc 7 lĩnh vực nghiên cứu, kinh tế, quản trị kinh doanh, văn học, thiếu nhi đã được trao giải Sách hay 2011.Đây là giải thưởng lần đầu tiên được tổ chức tại Việt Nam do Dự án Văn hóa-Giáo dục Sách hay và trường Doanh nhân PACE tổ chức. Các cuốn sách đoạt giải thuộc thể loại sách viết và sách dịch bao gồm: “Khuyến học” của dịch giả Phạm Hữu Lợi; “Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục và tâm lý” của tác giả Dương Thiệu Tống; “Dân chủ và Giáo dục”, dịch giả Phạm Anh Tuấn; “Nền dân trị Mỹ” của dịch giả Phạm Toàn; “Tư duy kinh tế Việt Nam 1975-1989”, tác giả Đặng Phong; “Công ty: vốn, quản lý và tranh chấp” của tác giả Nguyễn Ngọc Bích và Nguyễn Đình Cung. Có 4 đại diện ở thể loại văn học nhận giải thưởng này gồm “Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ” – Nguyễn Ngọc Thuần, “Hoàng Tử bé” – dịch giả Bùi Giáng, “Nỗi buồn chiến tranh” – Bảo Ninh “Nghệ nhân Margarita” – dịch giả Đoàn Tử Huyến.Giải thưởng Sách hay được sáng lập nhằm góp phần tìm kiếm, chọn lọc những cuốn sách có giá trị của Việt Nam và thế giới và phổ biến những tác phẩm trên rộng rãi trong cộng đồng. Bên cạnh đó, dự án cũng góp phần khuấy động phong trào đọc sách, kéo công chúng đến với sách nhiều hơn và gợi mở xu hướng đọc sách, viết sách, làm sách tiến bộ. http://www.anninhthudo.vn/Hau-truong/Dua-sach-hay-den-gan-ban-doc/413877.antd

Ngoài ra, có rất nhiều công trình khoa học nghiên cứu về Yukichi, đặc biệt qua cuốn Khuyến học

.v.v.v

Tác giả Trần Thị Hạnh có đăng một bài khá sâu sắc trên tạp chí KH của ĐHQGHN, ai quan tâm có thể tham khảo: Tckh,vnu, tap 27, so 1,2011 tranthihanhtriethoc@gmail.com

 Nghe trực tuyến (sưu tầm): FUKUYUKI tự truyện

Tải về :  

http://www.mediafire.com/?mdeaxq5wnx67i9q

Dưới đây là “Vài nét về thân thế và sự nghiệp” của Fukuzawa Yukichi, trong bản dịch tiếng Việt của cuốn “Khuyến học”, một trong những cuốn sách gây ảnh hưởng rất lớn tới dân chúng Nhật Bản thời bấy giờ.

Fukuzawa Yukichi (tên dịch ra tiếng Việt là Phúc Trạch Dụ Cát, 1835 – 1901) là nhà tư tưởng tiến bộ, nhà giáo dục có ảnh hưởng rất lớn tới phong trào Khai Sáng ở Nhật Bản vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, tạo tiền đề cho Nhật Bản trở thành một cường quốc trên thế giới (Trích: Dân Luận). 

Dưới đây là “Vài nét về thân thế và sự nghiệp” của Fukuzawa Yukichi, trong bản dịch tiếng Việt của cuốn “Khuyến học”, một trong những cuốn sách gây ảnh hưởng rất lớn tới dân chúng Nhật Bản thời bấy giờ. 

Nói tới Fukuzawa Yukichi, không người Nhật nào lại không biết. Họ nói về ông như một trong những bậc “khai quốc công thần” của nước Nhật Bản hiện đại, hình ảnh của ông được in trên đồng tiền có mệnh giá cao nhất ở Nhật, tờ 10.000 yên.

Fukuzawa Yukichi là nhà tư tưởng có ảnh hưởng sâu rộng nhất đối với xã hội Nhật Bản thời cận đại. Người Nhật tôn vinh ông là “Voltaire của Nhật Bản”, không chỉ vì tính triệt để và tầm mức vượt trội trong tư tưởng của ông, mà còn vì cũng như danh nhân người Pháp, Fukuzawa Yukichi cùng những người đồng chí của mình là những người khai sáng tinh thần quốc dân Nhật Bản, đem lại linh hồn, động lực và sự hậu thuẫn tinh thần cho công cuộc Duy tân của chính phủ Minh Trị. Những tác phẩm của ông dù viết từ hơn một thế kỷ trước, nhưng vẫn được người Nhật Bản ngày nay hết lòng ngưỡng mộ.

Fukuzawa Yukichi sinh năm 1834 trong một gia đình Võ sĩ cấp thấp ở Nakatsu, nay thuộc tỉnh Oita, Kyushu, Nhật Bản. Cha ông – một viên chức tài chính của tỉnh – mất sớm, khiến gia đình lâm vào cảnh khốn quẫn. Năm 4 tuổi, ông được gửi sang nhà chú ruột làm con nuôi. Ngay từ thuở niên thiếu, ông đã cảm nhận sâu sắc nỗi tủi nhục do chế độ đẳng cấp và nỗi khổ do tình cảnh khốn quẫn của gia đình.

“Ở Nakatsu quê tôi, chế độ quyền thế gia truyền giữa các sĩ tộc được quy định nghiêm ngặt. Không chỉ trong chốn công đường mà nguyên tắc đó còn thể hiện trong cuộc sống hằng ngày, ngay cả trong quan hệ giữa đám trẻ con trong làng. Con cái của các Võ sĩ cấp thấp như tôi phải thưa gửi, lễ phép khi nói chuyện với con cái của các Võ sĩ cấp cao. Ngược lại, con cái của các Võ sĩ cấp cao luôn cao giọng, khiếm nhã đối với tôi. Sự phân biệt, chia rẽ trên dưới, sang hèn còn thể hiện trong cả lúc chơi đùa chạy nhảy. Con cái nhà quyền thế chỉ chơi với con cái nhà quyền thế. Trong lớp học, tôi học giỏi hơn. Vật tay, tôi cũng không bao giờ thua. Vậy mà lúc nào chúng cũng tỏ thái độ kiêu căng, ngạo mạn với tôi. Tôi bất bình đến mức không sao chịu nổi.” (Fukuzawa – Tự truyện).

Mãi tới năm 14, 15 tuổi ông mới được đi học ở trường làng và ông thấy “học vấn ở đâu cũng chỉ toàn là Hán học”. Mặc dù học Nho học, nhưng Fukuzawa Yukichi không lấy đó là “khuôn vàng, thước ngọc”. Ngược lại, ông càng nhận thấy sự bất công trong xã hội phong kiến: “Nakatsu quê tôi, chế độ phong kiến đã áp đặt trật tự xã hội từ hàng trăm năm trước thế nào thì nay vẫn thế nấy. Mọi thứ cứ như bị nhồi chặt cứng trong hộp. Kẻ sinh ra trong nhà quản gia thì sau cũng trở thành quản gia. Người sinh ra trong gia đình thấp cổ bé họng thì sau này cũng vẫn thấp cổ bé họng. Tổ tiên là quyền quý thì đời đời là quyền quý. Tổ tiên nghèo hèn thì từ đời này sang đời khác vẫn cứ nghèo hèn”.(Fukuzawa – Tự truyện).

Năm 19 tuổi, ông theo ngành Hà Lan học (ngành học ngôn ngữ Hà Lan, ngành nghiên cứu y học và các môn khoa học phương Tây như toán, vật lý, hóa học, sinh học… qua các sách viết bằng tiếng Hà Lan) tại Nagasaki và Osaka.

Năm 25 tuổi, Fukuzawa Yukichi lên Tokyo, ông đến thăm cảng Yokohama – được chính quyền Mạc phủ mở cho tàu bè phương Tây ra vào buôn bán. Tại đây, “chỗ nào cũng gặp người phương Tây. Nhà cửa, quán xá mọc lên khắp nơi. Họ ở đó và buôn bán. Tôi dùng tiếng Hà Lan để trao đổi. Họ không hiểu. Nghe họ nói, tôi cũng không hiểu. Nhìn vào hàng chữ trên các bảng quảng cáo, các tờ cáo thị, tôi không đọc được. Không biết đó là tiếng gì, tiếng Anh hay tiếng Pháp?” (Fukuzawa – Tự truyện).

Nhận thấy “Hà Lan học” đã trở nên lạc hậu với thời đại, ông quyết chí bắt tay vào học tiếng Anh. Không có người dạy và nơi học, ông đã dựa vào từ điển để học.

Năm 1860, tình cờ ông được cử làm thông dịch viên, theo phái đoàn của chính quyền Mạc phủ sang Hoa Kỳ, và ông đã đặt chân lên San Francisco và Hawaii. Hai năm sau, năm 1862, ông lại được tháp tùng phái đoàn Mạc phủ sang châu Âu. Và năm 1867, ông đặt chân tới các thành phố phía đông Hoa Kỳ trong chuyến tháp tùng phái đoàn của chính quyền Mạc phủ đi mua tàu.

Qua ba chuyến đi trên, Fukuzawa Yukichi đã tiếp cận với thế giới văn vật của các quốc gia phát triển phương Tây, đồng thời mở ra những hướng mới trong nhận thức về thế giới và làm ông ý thức rõ hơn vị trí Nhật Bản trên trường quốc tế. Có thể nói chuyến đi sang các nước phương Tây là bước ngoặt mang tính quyết định vai trò của Fukuzawa Yukichi đối với lịch sử Nhật Bản trong thời kỳ chuyển mình từ cuối thời Mạc phủ sang thời đại Minh Trị.

Tác phẩm “Sự tình phương Tây” 10 tập, viết từ năm 1866 – 1870 trên cơ sở những điều “mắt thấy tai nghe” trong thời gian ở phương Tây, số lượng phát hành lên tới 25 vạn bản. Tác phẩm giới thiệu thế giới văn vật, quan niệm về quyền lợi và nghĩa vụ, chế độ chính trị, cơ cấu xã hội, nền giáo dục, học thuật, luật pháp, lịch sử, nền công nghiệp, quân sự… của các quốc gia Âu – Mỹ. Tác phẩm này được người Nhật Bản coi là “cẩm nang” của chính phủ Minh Trị trong việc xây dựng xã hội Nhật Bản theo mô hình phương Tây.

Trong tác phẩm “Khái lược về văn minh” xuất bản năm 1875 và “Đổi mới lòng dân” xuất bản năm 1879, Fukuzawa Yukichi khảo sát về lịch sử và nguyên nhân phát triển của các nền văn minh cổ kim đông tây. Ông đã bàn về con đường hưng thịnh, suy vong của Nhật Bản, về cuộc sống của nhân dân Nhật Bản khi tiến lên văn minh trong tương lai. Tư tưởng, triết học, quan điểm lịch sử, quan điểm quốc gia của Fukuzawa Yukichi được biểu lộ qua hai tác phẩm này.

Ngoài ra, Fukuzawa Yukichi còn viết một loạt các tác phẩm hướng đến công chúng đông đảo, mà đặc biệt là tầng lớp thanh niên. Các tác phẩm này nhằm truyền bá những tư tưởng canh tân vào xã hội Nhật Bản, một đất nước đang thực hiện công cuộc Duy tân do chính phủ Minh Trị tiến hành “từ trên xuống”, nhưng xã hội bên dưới vẫn còn trong vòng kiềm tỏa của những quan hệ, những tập quán, tập tục lỗi thời đã trải qua hàng ngàn năm của chế độ phong kiến Mạc phủ. Những tác phẩm tiêu biểu trong số đó là:

Khuyến học, năm 1872 – 1876.

•Bàn về dân quyền; Bàn về tiền tệ, năm 1878.

•Bàn về quốc quyền; Bàn về quốc hội, năm 1879.

•Bàn về kinh tế tư nhân, năm 1880.

•Bàn về thời sự thế giới; Bàn về quân sự, năm 1882.

•Bàn về nghĩa vụ quân sự; Bàn về ngoại giao, năm 1884.

•Bàn về phụ nữ Nhật Bản; Bàn về phẩm hạnh, năm 1885.

•Bàn về cách nhân sĩ xử thế; Bàn về giao tiếp nam nữ, năm 1886.

•Bàn về nam giới Nhật Bản; Bàn về Hoàng gia Nhật Bản, năm 1888.

•Bàn về thuế đất; Bàn về tiền đồ và trị an quốc hội, năm 1892.

•Bàn về thực nghiệm, năm 1893.

 •Fukuzawa Yukichi tuyển tập, năm 1897 – 1899.

•Bàn về đại học nữ, đại học nữ mới, năm 1899.

 •Fukuzawa Yukichi – Tự truyện, năm 1899.

Năm 1868, để nâng cao dân trí, đào tạo thanh niên sinh viên – thế hệ gánh vác trọng trách xây dựng một nước Nhật Bản văn minh – Fukuzawa Yukichi đã thành lập trường Keio Gijiuku (Keio Nghĩa thục) – tiền thân của trường đại học Keio nổi tiếng hiện nay tại Tokyo. (Phan Bội Châu có đến thăm trường Keio Gijuku trong thời gian ở Nhật Bản. Trường Đông kinh Nghĩa thục lập tại Hà Nội năm 1907 chính là dựa trên hình mẫu của trường này).

Năm 1873, Fukuzawa Yukichi cùng với một số trí thức Tây học lập ra hội Meirokusha. Hội viên có 10 người và đều là các học giả thuộc nhiều ngành như Mori Arinori (1847 – 1889), Nakamura Masanao (1832 – 1891), Kato Hiroyuki (1836 – 1916), Nishi Amane (1829 – 1897), Taguchi Ukichi (1828 – 1903)… Họ tổ chức viết sách, dịch thuật, tổ chức các buổi diễn thuyết, xuất bản tập san Meroku làm diễn đàn để phổ biến và tranh luận đủ mọi vấn đề: chính trị, giáo dục, tôn giáo, kinh tế, pháp luật, vai trò phụ nữ, phong tục, Nhật ngữ…

Các thành viên trong hội Meirokusha đã dịch và giới thiệu nhiều tác phẩm về tư tưởng, chính trị, kinh tế, luật pháp, giáo dục phương Tây ra tiếng Nhật. Các tác phẩm được dịch và giới thiệu trong thời kỳ này là các cuốc Tự giúp mình (Self – help) của Samuel Smiles (1812 – 1904), Tự do luận (On Liberty), Chính trị Kinh tế học (Political Economy), Chủ nghĩa công lợi (Utilitarianism) của J.S.Mill (1806 – 1873), Nam nữ bình quyền luận (Social Statics), Giáo dục (Education) của Herbert Spencer (1820 – 1903), Tinh thần Pháp luật của Montesquieu (1689 – 1755), Khế ước Xã hội của Rousseau (1712 – 1778), Tự do mậu dịch của Adam Smith. Ngoài ra, thuyế tiến hoá của Darwin và tác phẩm Allgemeines Staatsrecht của J.C. Bluntschli người Đức cũng được dịch và giới thiệu.

Năm 1879, Viện Học sĩ Tokyo – tiền thân của Viện Hàn lâm Nhật Bản ngày nay – ra đời. Fukuzawa Yukichi được chọn làm viện trưởng.

Năm 1882, ông sáng lập và làm chủ bút tờ “thời sự tân báo” để trao đổi quan điểm về các vấn đề trong xã hội Nhật Bản thời ấy.

Để đóng góp hữu hiệu trong việc khai hóa văn minh, nâng cao dân trí, phát triển xã hội, Fukuzawa Yukichi chủ trương các học giả phải có lập trường độc lập với chính phủ. Do đó, suốt cả cuộc đời ông nhất quyết từ chối mọi lời tham dự chính quyền, mặc dù nhiều học giả cùng hội cũng như các môn đệ của ông giữ những trọng trách quan trọng trong chính phủ Minh Trị.

Năm 1900, ông được nhận giải thuởng từ Hoàng gia Nhật Bản do công lao đóng góp cho sự nghiệp giáo dục. Giải thưởng trị giá 50.000 yên. Ông tặng lại số tiền cho trường Keio.

Năm 1901, ông mất do xuất huyết não, thọ 68 tuổi.

Cuốn sách mà bạn đang cầm trên tay là cuốn Khuyến học, được ông viết trong thời gian 1872 – 1876. Đây không phải là tác phẩm đồ sộ và sâu sắc nhất của ông, nhưng lại là tác phẩm có ảnh hưởng sâu rộng nhất đến công chúng Nhật Bản. Khi mới được in lần đầu, cuốn sách này có một số lượng ấn bản kỷ lục là 3,4 triệu bản, trong khi dân số Nhật Bản thời đó chỉ khoảng 35 triệu người. Chỉ riêng điều đó đã cho thấy đây thực sự là cuốn sách gối đầu giường của mọi người dân Nhật trong thời kỳ Duy tân. Và kể từ đó đến nay, cuốn sách này đã được tái bản liên tục, chỉ tính từ năm 1942 đến năm 2000, riêng nhà xuất bản Iwanami Bunko cũng đã tái bản đến 76 lần.

Trong cuốn sách này, Fukuzawa Yukichi đề cập đến tinh thần cơ bản của con người và mục đích thực thụ của học vấn. Với các chương viết về sự bình đẳng, quyền con người, ý nghĩa của nền học vấn mới, trách nhiệm của nhân dân và chính phủ trong một quốc gia pháp trị… cuốn Khuyến học đã làm lay chuyển tâm lý người dân Nhật Bản dưới thời Minh Trị. Với tuyên ngôn “Trời không tạo ra người đứng trên người và cũng không tạo ra người đứng dưới người”, Fukuzawa Yukichi đã gây kinh ngạc và bàng hoàng – như “không tin vào tai mình” – cho đa số người dân Nhật Bản vốn bị trói buộc bởi đẳng cấp, thân phận, quen phục tùng, phó mặc và e sợ quan quyền suốt hàng trăm năm dưới chính thể phong kiến Mạc phủ. Ông khẳng định mọi người sinh ra đều bình đẳng và nếu có khác biệt là do trình độ học vấn. Về học vấn, Fukuzawa Yukichi phê phán lối học “từ chương” và nhấn mạnh Nhật Bản phải xây dựng nền học vấn dựa trên “thực học”. Nền học vấn thực học phải gắn liền với cuộc sống hàng ngày, phải dựa trên tinh thần khoa học, tinh thần độc lập, tính thực dụng. Việc tiếp thu văn minh phương Tây phải có chọn lọc. Và quan điểm xuyên suốt cuốn sách là “Làm thế nào để bảo vệ nền độc lập Nhật Bản” trong bối cảnh các cường quốc phương Tây đang muốn biến toàn bộ châu Á thành thuộc địa.

Với độc giả Việt Nam hiện nay, nhiều tư tưởng của Fukuzawa Yukichi trong Khuyến học có lẽ không còn là điều mới mẻ gây chấn động lòng người như đối với người dân Nhật Bản ở thời Minh Trị. Tuy nhiên, cách đặt vấn đề của ông thì vẫn còn nguyên ý nghĩa thời sự đối với nhưng quốc gia đang trên con đường hiện đại hóa. Ngoài ra cuốn “Cẩm nang” của người Nhật này cũng sẽ giúp cho độc giả Việt Nam hiểu rõ hơn những đặc điểm về tính cách và tinh thần của người Nhật Bản hiện đại, những người từ thân phận nông nô “ăn nhờ ở đậu”, nhờ có sự khai sáng của những con ngừơi như Fukuzawa Yukichi mà đã trở thành “quốc dân” của một đất nứơc Nhật Bản hiện đại và văn minh như ngày nay.

 

Vài nét về FUKUZAWA Yukichi (Nguồn Wikipedia)

 

Lịch sử biết đến Fukuzawa Yukichi (Phúc-Trạch Dụ-Cát) như một nhà cải cách chính trị xã hội, nhà giáo dục tiên phong, nhà tư tưởng tiêu biểu của Nhật Bản từ cuối thời Edo, đầu thời kỳ Minh Trị, thời kỳ diễn ra những chuyển biến lớn lao trong lịch sử Nhật Bản. Tư tưởng của ông có ảnh hưởng rất lớn tới phong trào Khai sáng ở Nhật Bản vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, tạo tiền đề cho Nhật Bản trở thành một cường quốc trên thế giới. Lòng biết ơn của người Nhật đối với Fukuzawa được thể hiện qua việc hình ông được in trên tờ tiền 10.000 yen (tờ tiền có mệnh giá lớn nhất của Nhật), dù ông không phải là một đấng quân vương hay võ tướng lỗi lạc của đất nước mặt trời mọc.

 

Ông sinh năm 1835, mất năm 1901, thọ 66 tuổi. Một điều thú vị ngẫu nhiên là cuộc cải cách Minh Trị duy tân được bắt đầu vào năm 1868, lúc Fukuzawa 33 tuổi. Tức là nếu lấy năm Minh Trị thứ nhất làm mốc có thể chia chính xác cuộc đời 66 năm của ông thành hai nửa. Qua đó sẽ thấy được những biến cố lớn lao không chỉ đối với bản thân cuộc đời Fukuzawa mà của cả xã hội Nhật Bản.

 

Fukuzawa Yukichi sinh tại Ōsaka, khi cha ông đang làm cho phủ đại diện của lãnh địa Nakatsu ở đó. Cha ông vốn là một nhà Nho nhiệt tâm với kinh sử, nhưng suốt đời không thoát khỏi công việc tính toán tiền bạc và giằng co các khoản nợ cho lãnh địa. Ông luôn mang nặng mối bất bình với công việc nhuốm màu ô tục và chế độ đẳng cấp phong kiến kìm nén con người. Điều này đã có ảnh hưởng lớn đến Fukuzawa. Mặc dù cha mất sớm, nhưng như ông đã bộc bạch, từ nhỏ ông đã được hưởng một nền giáo dục Nho gia từ hình bóng của người cha nghiêm nghị. Bản thân ông từ năm 14 tuổi cũng là một học trò xuất sắc của đạo Khổng. Nhưng óc phê phán sâu sắc cùng sự nhạy cảm với những biến chuyển của thời đại đã sớm hình thành trong Fukuzawa tư tưởng nhìn nhận lại những giá trị cũ, những nếp nghĩ cổ hủ, cứng nhắc của các nhà Nho.

 

Năm 1836, sau khi cha mất, gia đình Fukuzawa chuyển về ở dưới lãnh địa và theo như ông kể thì họ không hòa nhập được với phong tục ở đó. Ông ví chế độ phong kiến ở lãnh địa quê ông như chiếc hộp đồ chật cứng, ngàn đời bó buộc con người. Không thể chịu đựng không khí ngột ngạt trong đó thêm ngày nào, năm 21 tuổi Fukuzawa quyết định lên đường đi Nagasaki học các môn khoa học của người châu Âu thông qua sách vở và thầy dạy người Hà Lan. Việc tiếp xúc với Hà Lan học đã làm nảy sinh trong Fukuzawa mối quan tâm và lòng cảm phục đối với nền học thuật của người phương Tây, làm tiền đề cho sự khởi xướng phong trào học tập khoa học kỹ thuật tiến bộ của người châu Âu cùng những tư tưởng mang tính cách mạng như độc lập tự tôn, nam nữ bình quyền, con người bình đẳng…

 

Sau đó, ông lên Osaka và tiếp tục học Hà Lan học ở trường tư thục của Ogata Kōan, đại gia Hà Lan học lúc bấy giờ. Trí thức uyên bác cùng tấm lòng nhân hậu của thầy Ogata Kōan đã tác động không nhỏ tới Fukuzawa. Đây có thể nói là thời kỳ định hình nhân cách cũng như tư tưởng của ông.

 

Nhưng theo lệnh của lãnh chúa, năm 25 tuổi Fukuzawa lên Edo và mở một trường tư thục nhỏ, tiền thân của trường Đại học Keiō-gijuku ngày nay.

 

Một năm sau đó, trong chuyến đi thăm cảng Yokohama, Fukuzawa nhận ra rằng Hà Lan học đã lỗi thời và quyết tâm chuyển sang học tiếng Anh. Trong bối cảnh việc học tập, nghiên cứu Hà Lan học vẫn còn đang ở giai đoạn thịnh hành thì phát hiện này của Fukuzawa chứng tỏ ông là người vô cùng nhạy cảm với những biến chuyển của thời đại. Vì không nhờ được thầy dạy và cũng không thuyết phục được bạn bè học cùng, ông đã nhờ những thương nhân ở cảng Yokohama mua từ điển về tự học. Khi nghe tin Mạc phủ phái đoàn sứ giả sang Hoa Kỳ vào năm 1860, không đợi lời chiêu tập, ông đã tự mình đến gặp trưởng đoàn để xin đi. Vào thời mà kỹ thuật hàng hải Nhật Bản còn thấp, ra đi là đồng nghĩa với việc chấp nhận rủi ro, có thể phải đổi cả tính mạng thì quyết định của Fukuzawa là hết sức táo bạo, vượt qua thời đại mà ông đang sống. Lần đi Mỹ này cùng chuyến đi châu Âu và chuyến đi Mỹ lần hai đã mang lại cho Fukuzawa tầm nhìn rộng lớn, quyết định đến những ảnh hưởng sau này của ông đối với Nhật Bản.

 

Với kinh nghiệm học được từ người phương Tây qua sách vở và những chuyến thị sát, ông đã nhiệt huyết truyền bá những tư tưởng tiến bộ bằng mọi cách có thể. Ông đã tách mình ra khỏi biến động chính trị cuối thời Mạc phủ Edo, thầm lặng dịch và viết sách. Tài năng văn chương trác việt cùng tầm nhìn sâu rộng, sự đánh giá sắc sảo thể hiện qua các trước tác của Fukuzawa đã cuốn hút mối quan tâm không chỉ của giới trí thức mà cả những người dân thường. Bản thân ông đã tiên phong nêu gương về tinh thần độc lập, đề cao thực học, thực hiện cải cách bằng việc mở trường Keiō-gijuku, trường đại học tư thục hiện đại đầu tiên và hiện nay vẫn là một trong những trường đại học tư lớn, có chất lượng giáo dục uy tín hàng đầu của Nhật Bản. Đây chính là nguồn cung cấp nhân tài về chính trị, khoa học, giáo dục với những tri thức tiên tiến khi Nhật Bản chuyển mình sang thời đại mới, thời kỳ Minh Trị.

 

Tài năng và nhân cách Fukuzawa Yukichi thăng hoa cùng với những năm tháng của cuộc cải cách Minh Trị duy tân. Ông đã để lại trước tác với số lượng lên tới hàng vạn trang, trong đó tiêu biểu phải kể đến là “Khuyến học” (Gakumon no susume), “Khái lược luận thuyết về văn minh” (Bunmeiron no gairyaku), “Tình hình châu Âu” (Seiyō jijō), “Phúc ông tự truyện” (Fukuō Jiden), v.v.v

 

Sách đã được dịch sang tiếng Việt

 

Sách “Khuyến học” của FUKUZAWA Yukichi

 

Cuốn sách mà các bạn đang cầm trên tay là cuốn Khuyến học, được ông viết trong thời gian 1872-1876. Đây không phải là tác phẩm đồ sộ và sâu sắc nhất của ông, nhưng lại là tác phẩm có ảnh hưởng sâu rộng nhất đến công chúng Nhật Bản. Khi mới được in lần đầu, cuốn sách này có một số lượng ấn bản kỷ lục là 3,4 triệu bản, trong khi dân số Nhật Bản thời đó chỉ khoảng 35 triệu người. Chỉ riêng điều đó đã cho thấy đây thực sự là cuốn sách gối đầu giường của người dân Nhật trong thời kỳ Duy Tân. Và kể từ đó đến nay, cuốn sách này đã được tái bản liên tục, chỉ tính từ năm 1942 đến năm 2000, riêng nhà xuất bản Iwanami Bunko đã tái bản đến 76 lần.

 

Trong cuốn sách này, Fukuzawa Yukichi đề cập đến tinh thần cơ bản của con người và mục đích thực thụ của học vấn. Với các chương viết về sự bình đẳng, quyền con người, ý nghĩa của nền học vấn mới, trách nhiệm của nhân dân và chính phủ trong một quốc gia pháp trị… cuốn Khuyến học đã làm lay chuyển tâm lý người dân Nhật Bản dưới thời Minh Trị. Với tuyên ngôn “Trời không tạo ra người đứng trên người và cũng không tạo ra người đứng dưới người”, Fukuzawa Yukichi đã gây kinh ngạc và bàng hoàng – như “không tin vào tai mình” – cho đa số người dân Nhật Bản vốn bị trói buộc bởi đẳng cấp, thân phận, quen phục tùng, phó mặc và e sợ quan quyền suốt hàng trăm năm dưới chính thể phong kiến Mạc phủ. Ông khẳng định mọi người sinh ra đều bình đẳng và nếu có khác biệt là do trình độ học vấn. Về học vấn, Fukuzawa Yukichi phê phán lối học “từ chương” và nhấn mạnh Nhật Bản phải xây dựng nền học vấn dựa trên “thực học”. Nền học vấn thực học phải gắn liền với cuộc sống hàng ngày, phải dựa trên tinh thần khoa học, tinh thần độc lập, tính thực dụng. Việc tiếp thu văn minh phương Tây phải có chọn lọc. Và quan điểm xuyên suốt cuốn sách là “Làm thế nào để bảo vệ nền độc lập Nhật Bản” trong bối cảnh các cường quốc phương Tây đang muốn biến toàn bộ Châu Á thành thuộc địa.

 

Với độc giả Việt Nam hiện nay, nhiều tư tưởng của Fukuzawa Yukichi trong Khuyến học có lẽ không còn là điều mới mẻ gây chấn động lòng người như đối với người dân Nhật Bản ở thời Minh Trị. Tuy nhiên, cách đặt vấn đề của ông thì vẫn còn nguyên ý nghĩa thời sự đối với những quốc gia đang trên con đường hiện đại hóa. Ngoài ra, cuốn “Cẩm nang” của người Nhật này cũng sẽ giúp độc giả Việt Nam hiểu rõ hơn những đặc điểm về tính cách và tinh thần của người Nhật Bản hiện đại, những người từ thân phân nông nô “ăn nhờ ở đậu”, nhờ có sự khai sáng của những con người như Fukuzawa Yukichi mà đã trở thành “quốc dân” của một đất nước Nhật Bản hiện đại và văn minh ngày nay.

Một số trích đoạn đáng chú ý trong cuốn sách:

Các lãnh chúa, quan chức chính quyền nghĩ ra đủ trò để tiêu xài, làm cạn kiệt nguồn tài chính. Và để tiếp tục có tiền tiêu xài, họ liền đặt ra đủ loại sắc thuế bắt chẹt dân, buộc dân phải đóng góp. Dân chúng kêu ca, họ ngụy biện bảo rằng đó là sự “đền ơn, báo đáp đất nước”.

 

Cái mà họ gọi là “đền ơn, báo đáp đất nước” là gì? Chắc là họ muốn nói rằng nhờ có chính quyền này mà dân chúng mới được sống thanh bình, yên ổn làm ăn, ko phải lo sợ kẻ xấu. Thế nhưng lập ra luật pháp, bảo vệ dân chúng, giữ gìn an ninh… là công việc, là nghĩa vụ đương nhiên của chính quyền. Không thể coi đó là sự ban ơn, không thể coi đó là lòng tốt để rồi bắt dân phải hàm ơn hay báo đáp lại chính quyền. Nếu như chính quyền nghĩ như vậy, thì người dân sẽ nói rằng: “Chính quyền phải hàm ơn nhân dân và báo đáp cho nhân dân mới phải, vì chính quyền sống bằng tiền thuế, tiền thóc lúa do dân đóng, cớ sao lại có chuyện ngược đời như thế được?”

 

Thực ra bên nào cũng nhận “ơn” của bên kia. Đó là sự có đi, có lại.

 

Không có đạo lý nào buộc dân phải hàm ơn chính quyền, mà chính quyền lại không cần phải hàm ơn dân cả.

 

Vì sao tập quán xấu này vẫn diễn ra trong cuộc sống hàng ngày? Đó là vì chính quyền miệng nói bình đẳng nhưng không hiểu bình đẳng, lợi dụng chênh lệnh giàu nghèo, mạnh yếu, sử dụng quyền lực chèn ép quyền lợi của dân lành.

 

Người ta thường nói: “Trời không tạo ra người đứng trên người và cũng không tạo ra người đứng dưới người“. Kể từ khi tạo hóa làm ra con người thì tất cả sinh ra đều bình đẳng, mọi người đều có tư cách, có địa vị như nhau, không phân biệt đẳng cấp trên dưới, giàu nghèo.

 

Loài người, chúa tể của muôn vật, bằng hoạt động trí óc và hoạt động chân tay mà biến mọi thứ có trên thế gian thành vật có ích cho bản thân mình. Nhờ thế mà thỏa mãn được nhu cầu ăn, mặc, ở, sống tự do theo ý muốn và không làm phiền, làm cản trở cuộc sống của đồng loại. Con người có thể sống yên ổn, vui vẻ trên thế gian. Đó là ý Trời, là niềm hi vọng của Trời đối với con người.

 

Vậy mà nhìn rộng ra khắp xã hội, cuộc sống con người luôn có những khoảng cách một trời một vực. Đó là khoảng cách giữa người thông minh và kẻ ngu độn; giữa người giàu và kẻ nghèo; giữa tầng lớp quý tộc và tầng lớp hạ đẳng.

 

Như thế là tại làm sao? Nguyên nhận thực ra rất rõ ràng.

 

Cuốn sách dạy tu thân “Thự ngữ giáo” có câu: “Kẻ vô học là người không có tri thức, kẻ vô tri thức là người ngu dốt”. Câu nói trên cũng có thể hiểu: Sự khác nhau giữa người thông minh và kẻ đần độn là ở chỗ có học hay vô học mà thôi.

 

Trên thế gian có cả việc khó lẫn việc dễ. Người làm việc khó được coi là người quan trọng. Người làm việc dễ thường có địa vị thấp, bị coi thường. Công việc cần sự khổ nhọc về tinh thần được xem là việc khó, còn lao động chân tay là việc dễ. Vì thế học giả, quan chức chính phủ, giám đốc các công ty lớn, chủ trang trại sử dụng nhiều nhân công… là những người có địa vị cao, quan trọng. Và một khi đã là những người có địa vị, quan trọng thì đương nhiên gia đình họ cũng giàu sang sung túc đến mức tầng lớp hạ đẳng nằm mơ cũng không được. Tuy vậy, nếu suy nghĩ kỹ lưỡng gốc rễ của vấn đề thì chỉ có một nguyên nhân. Đó chẳng qua là do có chịu khó học hay không mà thôi, chứ có người nào được trời phú đâu. Ngạn ngữ có câu: “Trời không ban cho con người phú quý. Chính con người tạo ra giàu sang phú quý.” Có nghĩa là Trời nhìn vào kết quả hoạt động, lao động của con người để ban thưởng.

 

Như tôi đã đề cập: Ở con người vốn dĩ không có chênh lệch sang hèn, giàu nghèo. Vì thế, có thể nói rằng: Người chịu khó học, hiểu biết nhiều sẽ trở thành người quan trọng, sống sung túc; người vô học sẽ trở thành con người thấp kém, nghèo khổ.

 

Sách “Khuyến học” của FUKUZAWA Yukichi

 Hàng loạt báo đã giới thiệu tác phẩm này….

Ở hạng mục “Lẽ sống”, cuốn sách dịch được trao giải là “Khuyến học” của Fukuzawa Yukichi, do Phạm Hữu Lợi dịch. Tác giả nhấn mạnh: Nước Nhật đã tìm ra lời giải thực học mới có thể thành công trong việc chấn hưng đất nước thông qua cuốn sách nổi tiếng kinh điển này, hy vọng cuốn sách có thể giúp cho nền giáo dục VN trong tương lai.
Nguồn: http://laodong.com.vn/Tin-Tuc/Giai-thuong-Sach-hay-2011-5-mang-sach-de-trong/57661

Mười một tác phẩm thuộc bảy lĩnh vực: lẽ sống, giáo dục, nghiên cứu, kinh tế, quản trị, văn học thiếu nhi, văn học – tiểu thuyết vừa được tôn vinh tại giải Sách hay 2011 vào sáng qua (8.9) tại khách sạn Kim Đô, TP.HCM. Kết quả giải thưởng Sách Hay 2011:- Sách lẽ sống: sách viết: không có; sách dịch: Khuyến học (Fukuzawa Yukichi, Phạm Hữu Lợi dịch, NXB Trẻ, 2004, Nhã Nam & NXB Tri Thức, 2008).
Nguồn: http://sgtt.vn/Van-hoa/152690/Giai-thuong-Sach-Hay-2011-Thong-diep-co-tinh-khuynh-huong.html

An ninh thủ đô: 11 cuốn sách thuộc 7 lĩnh vực nghiên cứu, kinh tế, quản trị kinh doanh, văn học, thiếu nhi đã được trao giải Sách hay 2011.Đây là giải thưởng lần đầu tiên được tổ chức tại Việt Nam do Dự án Văn hóa-Giáo dục Sách hay và trường Doanh nhân PACE tổ chức. Các cuốn sách đoạt giải thuộc thể loại sách viết và sách dịch bao gồm: “Khuyến học” của dịch giả Phạm Hữu Lợi; “Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục và tâm lý” của tác giả Dương Thiệu Tống; “Dân chủ và Giáo dục”, dịch giả Phạm Anh Tuấn; “Nền dân trị Mỹ” của dịch giả Phạm Toàn; “Tư duy kinh tế Việt Nam 1975-1989”, tác giả Đặng Phong; “Công ty: vốn, quản lý và tranh chấp” của tác giả Nguyễn Ngọc Bích và Nguyễn Đình Cung. Có 4 đại diện ở thể loại văn học nhận giải thưởng này gồm “Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ” – Nguyễn Ngọc Thuần, “Hoàng Tử bé” – dịch giả Bùi Giáng, “Nỗi buồn chiến tranh” – Bảo Ninh “Nghệ nhân Margarita” – dịch giả Đoàn Tử Huyến.Giải thưởng Sách hay được sáng lập nhằm góp phần tìm kiếm, chọn lọc những cuốn sách có giá trị của Việt Nam và thế giới và phổ biến những tác phẩm trên rộng rãi trong cộng đồng. Bên cạnh đó, dự án cũng góp phần khuấy động phong trào đọc sách, kéo công chúng đến với sách nhiều hơn và gợi mở xu hướng đọc sách, viết sách, làm sách tiến bộ.

http://www.anninhthudo.vn/Hau-truong/Dua-sach-hay-den-gan-ban-doc/413877.antd

Ngoài ra, có rất nhiều công trình khoa học nghiên cứu về Yukichi, đặc biệt qua cuốn Khuyến học

.v.v.v

Tác giả Trần Thị Hạnh có đăng một bài khá sâu sắc trên tạp chí KH của ĐHQGHN, ai quan tâm có thể tham khảo: Tckh,vnu, tap 27, so 1,2011 tranthihanhtriethoc@gmail.com

Fukuzawa Yukichi (1843-1901) (Phúc Trạch Dụ Cát): là nhà tư tưởng có ảnh hưởng sâu rộng nhất đối với xã hội Nhật Bản cận đại. Ảnh của ông được in trên đồng tiền có mệnh giá cao nhất của Nhật Bản, tờ 10.000 Yên. Ông sinh ra trong một gia đình võ sĩ ở tỉnh Oita, Kyushu. Mặc dù được học Nho học nhưng ông không lấy đó làm “khuôn vàng thước ngọc”. Ông nhận thức được sự bất công trong xã hội phân chia đẳng cấp. Ông theo học ngành Hà Lan học. Khi tiếp xúc với nhiều người phương Tây ở cảng Yokohama, ông thấy Hà Lan học cũng trở nên lỗi thời, ông học tiếng Anh. Năm 1860, ông đến Hoa Kỳ, sang châu Âu, đã được tiếp xúc với thực tế ở các quốc gia phát triển châu Âu, châu Mỹ, ông ý thức rõ hơn về vị thế của Nhật Bản trên thế giới, đánh dấu bước chuyển biến quan trọng trong tư tưởng và hành động cải cách, duy tân của ông.

 

Năm 1868 ông thành lập trường Keio Gijiuku (Khánh Ứng Nghĩa thục) tiền thần của Đại học Keio ngày nay tại Tokyo. Năm 1873, cùng với một số trí thức Tây học, lập ra Hội Meirokusha (Minh lục xã), tổ chức viết sách, dịch sách, tổ chức các buổi diễn thuyết và tranh luận về nhiều vấn đề nổi cộm như: chính trị, giáo dục, pháp luật, kinh tế,… Ông làm Viện trưởng viện học sĩ Tokyo – Viện Hàn lâm Nhật Bản ngày nay, sáng lập và làm chủ bút tờ Thời sự tân báo. Năm 1900, ông được nhận giải thưởng từ Hoàng gia Nhật Bản vì công lao đóng góp cho sự nghiệp giáo dục. Ông mất năm 1901 tại nhà riêng ở Mita.

 

Các tác phẩm bàn về nhiều vấn đề: dân quyền, quốc hội, kinh tế tư nhân… được ông viết và xuất bản liên tục nhằm nâng cao dân trí, truyền bá và phát động duy tân đổi mới mọi mặt của đời sống xã hội.

 

Tư tưởng cải cách, duy tân của Fukuzawa Yukichi là một hệ thống các quan niệm, quan điểm trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt về con người và sự phát triển của xã hội Nhật bản theo tinh thần học tập văn minh phương Tây nhưng giữ gìn bản sắc và độc lập, tự chủ và ngày càng trở nên cường thịnh.

 

Một trong những tư tưởng có tính then chốt trong hệ tư tưởng của Fukuzawa Yukichi là tư tưởng về con người Nhật Bản mới.


Khi chính phủ muốn khen ngợi những công lao của Fukuzawa Yukichi trong sự nghiệp giáo dục, ông nêu lên quan điểm của mình: “khen với được khen thì có vấn đề gì? Mỗi người có công việc, có thiên chức của mình, nên chẳng có gì là khó hiểu cả. Người phu xe có công việc của họ là kéo xe, người hàng đậu thì có công việc của người làm đậu, học trò có công việc là đọc sách. Đó là công việc đương nhiên mỗi người phải làm. Nếu như chính phủ muốn khen, phải khen trước hết từ người hàng đậu! Còn việc chỉ khen trí thức như thế thì thôi đi cho tôi nhờ”.

Về gvllct
Giảng viên Lý luận chính trị

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: