Bài báo đăng tạp chí chủ đề “hiến pháp”

Các bài báo có nói đến vấn đề “hiến pháp”. Bạn nào cần bài nào để đọc cho biết thì email cho GvLLCT theo địa chỉ trên trang nhé! Chúc vui

Các bài báo có nói đến vấn đề “hiến pháp”. Bạn nào cần bài nào để đọc cho biết thì email cho GvLLCT theo địa chỉ trên trang nhé! Chúc vui
(1-74)
[1]. Lương Văn Kế (2009): “Ảnh hưởng của các giá trị phương Tây với hiến pháp Nhật Bản 1946.”, Nghiên cứu Đông Bắc á, Số 9, trang 34-38.
[2]. Hồ Đức Anh (2007 ): “Bàn về cơ chế bảo vệ hiến pháp”, Dân chủ & Pháp luật, Số 7, trang 2-7.
[3]. Bùi Xuân Đức (2007): “Bàn về mô hình bảo hiến ở Việt Nam: Từ giám sát bởi quốc hội chuyển sang tài phán bằng toà án hiến pháp”, TC Luật học, Số 8, trang 10-18.
[4]. Hồ Đức Anh (2006): “Bảo vệ hiến pháp và chủ thể bảo vệ hiến pháp ở Việt Nam”, Dân chủ & Pháp luật, Số 6, trang 30-35.
[5]. Nguyễn Văn Huê (2006): “Bình đằng giới và sự tiến bộ của phụ nữ qua các bản hiến pháp Việt Nam”, Dân chủ & Pháp luật, Số 3, trang 20-23.
[6]. Trần Thị Tuyết (2005): “Bốn bản hiến pháp trong lịch trình 60 năm của Nhà nước cách mạng Việt Nam”, Nhà nước và pháp luật, Số 9, trang 42-49.
[7]. Nguyễn Tuấn Tú (1996): “Bước đầu tìm hiểu hiến pháp năm 1946 của Nhật Bản và hiến pháp năm 1946 của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa”, Nghiên cứu Nhật Bản, Số 2, trang 18-21, 25.
[8]. Đặng Ngọc Đức (2006): “Các cơ quan Nhà nước cao nhất theo Hiến pháp Nhật Bản”, Nghiên cứu Đông Bắc á, Số 10, trang 40-45.
[9]. Phạm Hữu Nghị (2009): “Các điều kiện của việc xây dựng cơ chế giám sát và phán quyết các hành vi vi phạm hiến pháp ở Việt Nam.”, Nhà nước và pháp luật, Số 5, trang 25-28.
[10]. Nguyễn Ngọc Hiến (2001 ): “Cải cách hành chính theo tinh thần dự thảo sửa đổi hiến pháp 1992”, TC Cộng sản, Số 21, trang 10-13, 21.
[11]. Nguyễn Thị Xuân Sơn (2001): “Cải cách hiến pháp và pháp luật ở Trung Quốc”, Nghiên cứu lập pháp, Số 8, trang 76-82.
[12]. Đinh Văn Mậu (2009): “Cần một mô hình và cơ chế tài phán hiến pháp phù hợp.”, Nhà nước và pháp luật, Số 5, trang 12-14,35.
[13]. Bùi Ngọc Sơn (2009): “Chế độ tài phán hiến pháp của chính quyền Việt Nam cộng hòa ở miền Nam Việt Nam trước 1975”, Nhà nước và pháp luật, Số 9, trang 24-29.
[14]. Nguyễn Đăng Dung (2009): “Chủ nghĩa hiến pháp và những yếu tố cấu thành”, Nghiên cứu Lập pháp, Số 2, trang 67-71,101.
[15]. Nguyễn Văn Mạnh;  Tào Thị Quyên (2006): “Cơ chế đảm bảo tính tối cao của Hiến pháp ở Việt Nam”, Lý luận chính trị, Số 1, trang 26-31.
[16]. Trương Đắc Linh (2007 ): “Cơ chế giám sát hiến pháp theo các hiến pháp Việt Nam và vấn đề xây dựng tài phán hiến pháp ở nước ta hiện nay”, Nhà nước và pháp luật, Số 1, trang 3-9.
[17]. Nguyễn Đức Lam (2001): “Cơ quan bảo vệ hiến pháp ở các nước”, Nghiên cứu lập pháp, Số 7, trang 19-31.
[18]. Võ Thị Hảo;  Philips Kunig (2009): “Đặc trưng của mô hình tài phán hiến pháp Đức”, Nghiên cứu Lập pháp, Số 8, trang 52-57.
[19]. Lê Minh Tâm (2001): “Góp phần xây dựng luận cứ cho việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 1992”, TC Luật học, Số 5, trang 20-26.
[20]. Đào Tuấn Thành (2001): “Hiến pháp 1866 và ý nghĩa của nó trong quá trình hình thành, phát triển Nhà nước Rumani thời cận đại (1859-1918)”, Nghiên cứu Châu Âu, Số 6, trang 52-58.
[21]. Nguyễn Sĩ Dũng;  Lê Hà Vũ (2005): “Hiến pháp 1946 với tư tưởng pháp quyền”, Nghiên cứu Lập pháp, Số 12, trang 10-12.
[22]. Văn Thị Thanh Mai (2007): “Hiến pháp 1946: Hiến pháp mang đậm dấu ấn Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân”, Dân chủ & Pháp luật, Số 08, trang 2-6.
[23]. Nguyễn Thanh Đức (2006): “Hiến pháp Châu Âu: Nội dung và những cản trở hiện nay đối với việc phê chuẩn”, Những vấn đề kinh tế thế giới, Số 1, trang 66-76.
[24]. Bùi Ngọc Sơn (2008): “Hiến pháp hiện hành và việc thành lập cơ quan tài phán hiến pháp ở Việt Nam”, Nhà nước và pháp luật, Số 6, trang 3-7.
[25]. Nguyễn Thị Phương (2006): “Hiến pháp Việt Nam với việc thực hiện quyền bình đẳng nam nữ theo Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CED AW)”, TC Luật học, Số 3, trang 30-36.
[26]. Đặng Minh Tuấn (2003): “Hội đồng Bảo hiến của Pháp-Mô hình ngăn ngừa sự vi phạm hiến pháp”, Nghiên cứu châu Âu, Số 6, trang 47-53.
[27]. Lê Hồng Hạnh (2008): “Khả năng thực hiện việc trao thẩm quyền giải thích Hiến pháp cho toà án ở Việt Nam”, Nghiên cứu Lập pháp, Số 18, trang 5-12, 18.
[28]. Lê Văn Cảm (2009): “Kiểm tra hiến pháp trong nhà nước pháp quyền và mô hình lý luận về tổ chức thực thi chế định này ở Việt Nam.”, Nhà nước và pháp luật, Số 5, trang 15-24,72.
[29]. Hoàng Thị Ngân (2006): “Luật hiến pháp và trưng cầu ý dân”,  Nhà nước và pháp luật, Số 8, trang 9-12.
[30]. Ngô Huy Cương (2001): “Luật hiến pháp với văn hoá chính trị”, Nghiên cứu lập pháp, Số 1, trang 29-44.
[31]. Đinh Văn Mậu (2007): “Mạn đàm về 60 năm hiến pháp 1946”, Quản lý nhà nước, Số 9, trang 2-3.
[32]. Tống Công Cường (1999): “Mô hình tổ chức cơ quan bảo vệ hiến pháp các nước”, Nhà nước và pháp luật, Số 10, trang 55-60.
[33]. Nguyễn Quốc Sửu (2005): “Nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lực nhà nước qua các bản hiến pháp ở Việt Nam”, Nhà nước và pháp luật, Số 5, trang 15-20.
[34]. Nguyễn Đình Lộc (2006): “Nhà nước thể chế hóa sự lãnh đạo của Đảng cầm quyền thành hiến pháp, pháp luật của nhà nước”, Dân chủ & Pháp luật, Số 4, trang 2-10.
[35]. Nguyễn Thanh Hiền (2009): “Nhận thức về chủ nghĩa lập hiến và vấn đề cải cách, xây dựng hiến pháp ở châu Phi.”, TC Nghiên cứu Châu Phi & Trung Đông, Số 8, trang 3-12.
[36]. Bùi Xuân Đức (2002): “Những điểm mới trong tổ chức bộ máy nhà nước qua sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 1992”, TC Luật học, Số 6, trang 10-15.
[37]. Phan Đức Thọ;  Nguyễn Thu Hà (2005): “Những vấn đề cơ bản của hiến pháp EU”, Nghiên cứu châu Âu, Số 1, trang 10-18.
[38]. Nguyễn Thị Thu Hà (2009): “Những vấn đề cơ bản trong hiến pháp Hoa Kỳ.”, Quản lý nhà nước, Số 12, trang 64-67.
[39]. Bùi Nguyên Khánh (2010): “Nội dung của chế độ kinh tế trong hiến pháp của các nước châu Âu và những gợi ý cho Việt Nam”, Nhà nước và pháp luật, Số 2, trang 12-21.
[40]. Nguyễn Văn Động (1995): “Nội dung quan hệ giữa nhà nước và cá nhân trong Hiến pháp 1992”, Luật học, Số 6, trang 11-17.
[41]. Trần Ngọc Đường (2008): “Phát huy vai trò của Hiến pháp, tiếp tục hoàn thiện cơ chế bảo vệ Hiến pháp”, TC Cộng sản, Số 786, trang 33-37.
[42]. Đinh Ngọc Vượng (2004): “Quá trình xây dựng Hiến pháp Liên minh châu Âu”, Nhà nước và pháp luật, Số 1, trang 56-63.
[43]. Vũ Thị Phụng (2005): “Quá trình xây dựng mô hình tổ chức của chính phủ trong Hiến pháp 1959”, Nhà nước và pháp luật, Số 3, trang 52-55.
[44]. Nguyễn Thế Quyền (2009): “Quy định về việc ban hành văn bản qua các hiến pháp nước ta”, Nghiên cứu Lập pháp, Số 8, trang 22-26.
[45]. Phạm Văn Hùng (2001): “Quyền lực của quốc hội và vấn đề sửa đổi hiến pháp”, Nghiên cứu lập pháp, Số 1 (đặc san), trang 65-75.
[46]. Nguyễn Văn Năm (  2001): “Quyền lực nhà nước và việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 1992”, TC Luật học, Số 5, trang 13-19.
[47]. Bùi Ngọc Sơn (2004): “So sánh mô hình bảo vệ hiến pháp của Mỹ và Đức”, Nghiên cứu châu Âu, Số 6, trang 52-59.
[48]. Trần Văn Thắng (2006): “Sự chi phối ủa nguyên tắc hiến pháp về tổ chức quyền lực nhà nước đối với quốc hội nước ta”, Lý luận chính trị, Số 10, trang 17-20.
[49]. Nguyễn Ngọc Thiệp (2006): “Sự ra đời và ảnh hưởng của điều 9 hiến pháp Nhật Bản 1946”, Nghiên cứu Đông Bắc á, Số 9, trang 25-30.
[50]. Thái Vĩnh Thắng (2010): “Sửa đổi bổ sung hiến pháp 1992 đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”, Nhà nước và pháp luật, Số 4, trang 3-13.
[51]. Đinh Duy Hoà (1991): “Sửa đổi hiến pháp và một số vấn đề về tổ chức nhà nước”, TT Công tác tổ chức nhà nước, Số 5, trang 29-34.
[52]. Lê Hồng Sơn (2001): “Sửa đổi, bổ sung hiến pháp năm 1992 với vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam”, TC Cộng sản, Số 23, trang 36-39.
[53]. Tào Thị Quyên (2006): “Tài phán Hiến pháp – Một số nghiên cứu so sánh”, Lý luận chính trị, Số 9, trang 84-88.
[54]. Nguyễn Như Phát (2009): “Tài phán hiến pháp và vấn đề bảo đảm các quyền công dân trong nhà nước pháp quyền.”, Nhà nước và pháp luật, Số 5, trang 29-35.
[55]. Bùi Ngọc Sơn (2009): “Tài phán Hiến pháp và viễn cảnh chủ nghĩa hợp hiến ở Việt Nam”, Nghiên cứu Lập pháp, Số 4, trang 26-33.
[56]. Đào Trí Úc (2006): “Tài phán hiến pháp và xây dựng tài phán hiến pháp ở Việt Nam hiện nay”, Nhà nước và pháp luật, Số 10, trang 3-10.
[57]. Lương Minh Tuân (2007): “Thuộc tính đại diện của Quốc hội trong hiến pháp Việt Nam”, Nghiên cứu Lập pháp, Số 08, trang 5-9, 24.
[58]. Võ Trí Hảo (2004): “Tính nhân bản và nguyên tắc tam quyền phân lập, kìm chế đối trọng trong Hiến pháp Mỹ 1787”, Châu Mỹ ngày nay, Số 9, trang 3-14.
[59]. Phạm Hồng Thái (2007): “Tổ chức quyền lực nhà nước trong hiến pháp 1946 giá trị mang tính thời đại”, Quản lý nhà nước, Số 9, trang 4-7.
[60]. Phạm Hồng Thái (2007): “Tổ chức quyền lực nhà nước trong hiến pháp năm 1946: Giá trị mang tính thời đại”, Dân chủ & Pháp luật, Số 09, trang 4-7.
[61]. Bùi Ngọc Sơn (2004): “Tố tụng hiến pháp”, Nhà nước và pháp luật, Số 12, trang 10-25.
[62]. Allan R. Brewer-Caryas (2009): “Toà án hiến pháp ở các nước xã hội chủ nghĩa châu Âu “, Nhà nước và pháp luật, Số 9, trang 20-23.
[63]. Vũ Thư (2003): “Trách nhiệm pháp lý theo Luật Hiến pháp”, Nhà nước và pháp luật, Số 12, trang 33-40.
[64]. Đỗ Thanh Bình;  Phạm Anh (2008): “Từ Hiến pháp chung đến Hiệp ước Lisbon: quá trình tiến tới Liên minh châu Âu thống nhất, hiện đại và năng động trong thế kỷ XXI”, Nghiên cứu châu Âu, Số 2, trang 40-47.
[65]. Phạm Chí Thành (2004): “Từ những sửa đổi, bổ sung của hiến pháp năm 1992 suy nghĩ về bản chất của nhà nước ta”, TC Khoa học chính trị, Số 3, trang 36-40.
[66]. Nguyễn Thị Phương (2003): “Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân trong Hiến pháp năm 1946”, TC Luật học, Số 4, trang 14-19.
[67]. Vũ Anh Tuấn (2006): “Vài nét về toà án hiến pháp Thái Lan”, Sinh hoạt lý luận, Số 06, trang 67-38, 71.
[68]. Vũ Hồng Anh (2003): “Vai trò của hiến pháp đối với việc phát huy dân chủ, bảo đảm quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân”, TC Luật học, Số 3, trang 3-9.
[69]. Nguyễn Như Phát (2008): “Vấn đề xây dựng cơ chế tài phán hiến pháp ở Việt Nam hiện nay.”, Nhà nước và pháp luật, Số 9, trang 6-12,18.
[70]. Vũ Hồng Anh (2005): “Về giám sát hiến pháp ở nước ta”, TC Luật học, Số 1, trang 3-11.
[71]. Hồ Việt Hạnh (2001): “Về hiến pháp Hàn Quốc”, Nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc á, Số 3, trang 63-67.
[72]. Đinh Ngọc Vượng (2009): “Về uỷ ban giám sát hiến pháp Liên Xô (1989-1991)”, Nhà nước và pháp luật.
[73]. Tào Thị Quyên (2009): “Vi phạm pháp luật và vi phạm hiến pháp”, Nghiên cứu Lập pháp, Số 12, trang 23-26.
[74]. Nguyễn Ngọc Nghiệp (2007): “Vì sao Nhật Bản muốn sửa đổi Điều 9 Hiến pháp”, Nghiên cứu Đông Bắc á, Số 8, trang 22-27.

 

Về gvllct
Giảng viên Lý luận chính trị

One Response to Bài báo đăng tạp chí chủ đề “hiến pháp”

  1. Pingback: Ba vấn đề cốt lõi khi sửa Hiến pháp (Cựu Chủ tịch Quốc hội Việt Nam – Nguyễn Văn An) « GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: